Chữ khả là âm Hán-Việt của chữ Hán 可, nghĩa gốc là “có thể”, “được”, “có khả năng”. Trong tiếng Việt, nó thường đứng trước động từ hoặc danh từ để chỉ điều gì làm được hoặc đáng làm:
- khả năng: năng lực có thể làm được việc gì đó
- khả thi: có thể thực hiện được
- khả dĩ: có thể, có lẽ là
- khả ái: đáng yêu
- khả nghi: đáng nghi
Khi ghép với bất (不, nghĩa là “không”), ta được phủ định: bất khả là “không thể”, như trong “bất khả kháng”, chỉ những việc không thể cưỡng lại được. Cách dùng này giữ nguyên ý “có thể” của chữ gốc, chỉ đảo lại thành “không thể”.
So với từ thuần Việt như “có thể”, khả mang sắc thái trang trọng, hay gặp trong văn bản, luật lệ và lời văn học thuật. Muốn kiểm tra nghĩa của một chữ Hán cụ thể, bạn có thể tra từ điển chữ Hán–Việt, ví dụ bộ từ điển của Thiều Chửu.
So Vietnamese has some Chinese influence still in its language
Đúng vậy, tiếng Việt vay mượn rất nhiều từ Hán qua lịch sử, và từ khả là một ví dụ rõ ràng. Theo các ước tính thường được nêu, hơn một nửa vốn từ tiếng Việt (con số hay được nhắc là khoảng 60%) là từ Hán-Việt, có gốc từ chữ Hán như 可 (khả), 能 (năng), 行 (hành)… Nhiều từ Hán-Việt đã trở thành từ thông dụng đến mức người nói không còn nghĩ là vay mượn, như “khả năng” hay “khả thi”.
Có một điểm thú vị về cách ghép: từ Hán-Việt giữ trật tự của tiếng Hán, từ bổ nghĩa đứng trước từ chính, còn tiếng Việt thuần thì ngược lại. Ví dụ, “đại lộ” (大路, lớn + đường) là từ Hán-Việt, còn tiếng Việt thuần nói “đường lớn” (đường + lớn). Từ Hán-Việt cũng thường trang trọng hơn từ thuần Việt cùng nghĩa, như “khả thi” so với “làm được”, nên khi đọc văn bản cũ hay luật lệ, bạn sẽ gặp rất nhiều từ như vậy.
Nếu muốn xem chi tiết, bạn có thể tìm các nghiên cứu về lớp từ Hán-Việt trong các giáo trình ngữ âm lịch sử tiếng Việt.